Hội nghị có sự tham dự và chủ trì của TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, thành viên Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Ủy viên BTV Thành ủy, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội; Nhà báo Phạm Nguyễn Toan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam; ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Bất động sản Việt Nam, Phó Tổng Giám đốc KN Holdings.

Tham dự Hội nghị còn có các Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành, hội viên Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam, đại diện cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội, tổ chức và doanh nghiệp.

Toàn cảnh Hội nghị.

Phát triển bất động sản công nghiệp gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng 

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, thành viên Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Ủy viên BTV Thành ủy, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội đã đưa ra những định hướng phát triển bất động sản công nghiệp Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh các vấn đề trọng tâm cần tập trung giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả phát triển lĩnh vực này trong giai đoạn tới.

Theo TS. Nguyễn Văn Khôi, trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bất động sản công nghiệp cần được nhìn nhận trong mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu phát triển đất nước, đặc biệt là định hướng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2045.

Theo ông, bất động sản công nghiệp không chỉ giới hạn ở hoạt động đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhà xưởng, kho bãi và các công trình phục vụ sản xuất. Quan trọng hơn, bất động sản công nghiệp còn tạo lập không gian và điều kiện vật chất để tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và cung ứng dịch vụ công nghiệp.

Bất động sản công nghiệp giữ vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc hình thành năng lực sản xuất mới, thu hút và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, phát triển các ngành kinh tế liên quan, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tổ chức lại không gian phát triển. Qua đó, lĩnh vực này góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, thành viên Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Ủy viên BTV Thành ủy, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị,

TS. Nguyễn Văn Khôi cho biết, những năm qua, hệ thống khu công nghiệp tại Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành nhiều khu công nghiệp có khả năng tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn không ít hạn chế cần được nhìn nhận thẳng thắn và có giải pháp khắc phục.

Cụ thể, không gian phát triển công nghiệp tại một số địa phương chưa thực sự đồng bộ với quy hoạch hạ tầng và liên kết vùng; hiệu quả sử dụng đất khu công nghiệp chưa đồng đều; hạ tầng xã hội phục vụ người lao động chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp. Trong khi đó, yêu cầu về chuyển đổi xanh và phát triển bền vững ngày càng cao, còn các thủ tục liên quan đến đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng và môi trường vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, cải cách theo hướng đồng bộ, thuận lợi hơn.

Từ thực tiễn trên, TS. Nguyễn Văn Khôi cho rằng cần tập trung vào một số định hướng trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bất động sản công nghiệp, qua đó đóng góp thiết thực hơn cho tăng trưởng kinh tế đất nước.

Thứ nhất, chuyển từ phát triển khu công nghiệp theo diện tích sang phát triển dựa trên hiệu quả kinh tế, hướng tới tạo ra giá trị gia tăng cao hơn và những lợi ích kinh tế - xã hội bền vững.

Thứ hai, gắn phát triển công nghiệp với liên kết vùng và tổ chức lại không gian kinh tế quốc gia. Tại miền Bắc, cần tăng cường kết nối giữa các trung tâm công nghiệp, cảng biển và mạng lưới logistics. Tại miền Nam, cần phát huy sự liên kết giữa TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh và các địa phương trong vùng. Đối với miền Trung và Tây Nguyên, cần phát triển các khu công nghiệp phù hợp với lợi thế về cảng biển, logistics, năng lượng và công nghiệp chế biến.

Thứ ba, đẩy mạnh phát triển khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thông minh và khu công nghiệp công nghệ cao, gắn với chuyển đổi xanh và mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ tư, thu hút đầu tư có chọn lọc, chú trọng nâng cao chất lượng dự án và phát triển các chuỗi giá trị công nghiệp trong nước.

Thứ năm, phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, gắn khu công nghiệp với khu đô thị, nhà ở, dịch vụ và đào tạo nguồn nhân lực. Đây là những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm điều kiện phát triển lâu dài cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời nâng cao chất lượng đời sống của người lao động.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng thể chế và hiệu quả thực thi pháp luật.

Thứ bảy, đa dạng hóa các nguồn vốn phục vụ phát triển bất động sản công nghiệp.

Theo TS. Nguyễn Văn Khôi, mục tiêu cuối cùng là mỗi khu công nghiệp phải tạo ra năng suất cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn và đóng góp thiết thực hơn cho sự phát triển của đất nước.

Tại Hội nghị, một trong những nội dung được Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao tính đồng bộ và khả thi của các quy định pháp luật liên quan đến phát triển bất động sản công nghiệp.

Theo ông, trong quá trình triển khai các quy định hiện hành, trong đó có Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, thực tiễn đã bộc lộ một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.

Thời gian qua, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đã tham gia nhiều cuộc làm việc, đóng góp ý kiến với các cơ quan của Quốc hội và cơ quan quản lý nhà nước về những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật. Trên cơ sở đó, Hiệp hội mong muốn các doanh nghiệp, nhà đầu tư hoạt động trong lĩnh vực bất động sản công nghiệp tiếp tục phản ánh cụ thể những bất cập từ thực tiễn, tạo cơ sở để tổng hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện chính sách, pháp luật.

Từ thực tiễn xây dựng và thực thi pháp luật, TS. Nguyễn Văn Khôi cho rằng việc xây dựng các quy định theo hướng khung và định hướng là cần thiết, song phải bảo đảm tính phù hợp và khả thi. Nếu quy định trong luật quá chặt chẽ, thiếu linh hoạt, việc cụ thể hóa bằng các nghị định của Chính phủ có thể gặp khó khăn trong quá trình triển khai. Ngược lại, nếu các vướng mắc chưa được nhận diện và xử lý đầy đủ ngay từ giai đoạn xây dựng luật, sau khi luật có hiệu lực, cơ quan quản lý vẫn phải tiếp tục tiếp nhận kiến nghị, sửa đổi, bổ sung quy định để tháo gỡ khó khăn.

Thực tế cho thấy, quá trình này có thể kéo dài một năm, một năm rưỡi, thậm chí gần hai năm. Điều đó khiến doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân phải chờ đợi, đồng thời làm phát sinh thêm thời gian và chi phí. Vì vậy, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, cần tăng cường lấy ý kiến từ thực tiễn, đánh giá đầy đủ những vướng mắc trong quá trình thực thi, hạn chế tình trạng quy định vừa ban hành đã phải tiếp tục điều chỉnh.

TS. Nguyễn Văn Khôi cho biết, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đã tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng các chính sách liên quan đến đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản, đồng thời tiếp tục tổng hợp kiến nghị của doanh nghiệp để phục vụ quá trình hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành.

Các ý kiến được tập hợp trong thời gian qua chủ yếu đến từ doanh nghiệp và các tập đoàn lớn. Do đó, Hiệp hội mong muốn tiếp tục nhận được phản ánh từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi đây cũng là nhóm có thể gặp phải những vướng mắc chưa được phản ánh đầy đủ trong quá trình xây dựng chính sách.

Trên tinh thần đó, TS. Nguyễn Văn Khôi đề nghị các doanh nghiệp, nhà đầu tư chủ động tham gia góp ý ngay từ giai đoạn xây dựng dự thảo nghị định, thay vì chờ đến khi văn bản được ban hành mới phản ánh những khó khăn phát sinh. Hiệp hội sẵn sàng tiếp nhận, tổng hợp các ý kiến để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, khả thi, kịp thời tháo gỡ vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, kinh doanh bất động sản công nghiệp.

Kết thúc phần phát biểu, TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh, trong bối cảnh đất nước đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, việc hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật có ý nghĩa quan trọng. Ông bày tỏ mong muốn các đại biểu, doanh nghiệp và nhà đầu tư tiếp tục trao đổi thẳng thắn, nêu rõ những khó khăn, bất cập cùng các kiến nghị cụ thể, qua đó góp phần xây dựng chính sách sát với thực tiễn, thúc đẩy lĩnh vực bất động sản công nghiệp phát triển hiệu quả và bền vững hơn.

Nhân lực công nghệ cao – lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI

Tại Tọa đàm chuyên đề: "Bất động sản công nghiệp với mục tiêu tăng trưởng hai con số: Nhận diện thời cơ, khơi thông nguồn lực và kiến nghị chính sách", ông Trần Vân Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic, Phó Chủ tịch Liên minh Phát triển nguồn lực công nghiệp bán dẫn Việt Nam, đã trình bày tham luận về nhân lực công nghệ cao trong chiến lược thu hút FDI và phát triển khu công nghiệp Việt Nam.

Theo ông Trần Vân Nam, Việt Nam đang bước vào giai đoạn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có chọn lọc. Nếu trước đây, lợi thế cạnh tranh chủ yếu đến từ nguồn lao động giá rẻ, chi phí thuê đất và chi phí sản xuất thấp, thì hiện nay, quyết định đầu tư ngày càng phụ thuộc vào năng lực công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và mức độ hoàn thiện của chuỗi cung ứng.

Trong bối cảnh đó, nhân lực công nghệ cao cần được xem là một dạng "hạ tầng mềm" của khu công nghiệp. Những địa phương và khu công nghiệp chuẩn bị tốt hệ sinh thái nhân lực sẽ có lợi thế lớn hơn trong thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, đặc biệt ở các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, điện tử, tự động hóa, công nghệ số và công nghệ sinh học.

"Nhân lực công nghệ cao là chìa khoá thu hút FDI chất lượng sao. Nhân lực chất lượng tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững. Đầu tư nhân lực hôm nay là bức phá trong chuỗi giá trị toàn cầu ngày mai", ông Trần Vân Nam nhấn mạnh.

Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn đang đối mặt với một số hạn chế như thiếu hụt nhân lực công nghệ cao, khoảng cách giữa chương trình đào tạo và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, cũng như hệ sinh thái đào tạo và thực hành chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các ngành công nghệ chiến lược.

Ông Trần Vân Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic, Phó Chủ tịch Liên minh Phát triển nguồn lực công nghiệp bán dẫn Việt Nam phát biểu tại Toạ đàm.

Về định hướng chính sách, ông Trần Vân Nam đề cập đến các chương trình của Chính phủ nhằm phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao, trong đó có Quyết định số 1017/QĐ-TTg năm 2024 về phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn và Quyết định số 1002/QĐ-TTg năm 2025 về đào tạo nhân lực phục vụ phát triển các công nghệ chiến lược. Mục tiêu đến năm 2030, 80.000 kỹ sư công nghệ thông tin/năm, 8.000 nhân lực AI/năm, 50.999 nhân lực bán dẫn…

Từ góc độ phát triển khu công nghiệp, ông Nam cho rằng các địa phương và chủ đầu tư cần thay đổi tư duy, không chỉ tập trung nâng tỷ lệ lấp đầy mà còn phải chủ động chuẩn bị năng lực tiếp nhận các dự án công nghệ cao. Điều này đòi hỏi xây dựng chiến lược nhân lực phù hợp với từng ngành, phát triển các trung tâm thực hành và phòng thí nghiệm hiện đại, tổ chức đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, đồng thời hình thành hệ sinh thái tuyển dụng tại chỗ.

Đặc biệt, cần thúc đẩy cơ chế liên kết ba bên giữa chính quyền địa phương, doanh nghiệp FDI và các trường đại học, cao đẳng. Thông qua sự phối hợp này, chương trình đào tạo có thể bám sát nhu cầu thực tế, tạo điều kiện để người học được thực hành, thực tập và tiếp cận cơ hội việc làm ngay tại địa phương.

Để hiện thực hóa các định hướng trên, ông Trần Vân Nam đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, quy hoạch phát triển khu công nghiệp phải gắn với quy hoạch nguồn nhân lực, bảo đảm sự tương thích giữa định hướng thu hút ngành nghề, nhu cầu lao động và năng lực đào tạo tại địa phương.

Thứ hai, thiết lập cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa địa phương, nhà trường và doanh nghiệp, từ cùng xây dựng chương trình đào tạo đến tổ chức thực hành, thực tập và tuyển dụng. 

Thứ ba, tập trung nguồn lực đầu tư có trọng điểm, lựa chọn các ngành nghề và khu công nghiệp có tiềm năng thu hút đầu tư để phát triển hệ sinh thái nhân lực tương ứng. Cách tiếp cận này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời tạo nền tảng để thu hút các dự án công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn.

Tháo gỡ vướng mắc pháp lý, mặt bằng và hạ tầng trong phát triển khu công nghiệp

Tại Tọa đàm, ông Phan Minh Toàn Thư, Giám đốc Chi nhánh Tổng Công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc - CTCP tại TP.HCM, đã chia sẻ những khó khăn trong quá trình triển khai các dự án khu công nghiệp tại địa phương, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hiệp hội trong hỗ trợ doanh nghiệp và kiến nghị hoàn thiện chính sách.

Theo ông Thư, tùy thuộc vào quan điểm và cách tiếp cận phát triển khu công nghiệp, mỗi địa phương có cách thức thu hút đầu tư và triển khai thủ tục khác nhau. Có nơi chủ động, cởi mở trong hỗ trợ nhà đầu tư; có nơi yêu cầu tuân thủ chặt chẽ quy trình pháp luật; trong khi một số địa phương cho phép triển khai song song các bước thủ tục.

Vướng mắc đầu tiên là vấn đề pháp lý và thủ tục lựa chọn nhà đầu tư. Theo ông, tính pháp lý của dự án, đặc biệt là các thủ tục về đầu tư và đất đai, có ý nghĩa quyết định đối với tiến độ triển khai. Bên cạnh đó, sự đồng hành của chính quyền địa phương cũng đóng vai trò rất quan trọng.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc lựa chọn nhà đầu tư khu công nghiệp theo các hình thức đấu giá, đấu thầu hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư vẫn còn những điểm chưa thống nhất trong quá trình áp dụng tại các địa phương.

Ví dụ đối với đất công, việc đấu giá có thể tương đối đơn giản, nhưng với hình thức đấu thầu, vẫn còn những vấn đề cần làm rõ, từ việc địa phương có lựa chọn phương thức này hay không đến trình tự, thủ tục thực hiện. Thực tế, cách áp dụng tại các tỉnh chưa thống nhất.

Tại những địa phương có nhiều nhà đầu tư cùng quan tâm đến một khu đất, cơ quan chức năng có thể cân nhắc giữa các phương án lựa chọn nhà đầu tư theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc lựa chọn xong nhà đầu tư chưa đồng nghĩa dự án có thể triển khai nhanh chóng, bởi còn phụ thuộc vào các thủ tục tiếp theo, công tác giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư.

Theo ông Thư, sự khác biệt trong cách áp dụng thủ tục giữa các địa phương khiến doanh nghiệp gặp khó khăn, trong đó có các dự án của Kinh Bắc. Vì vậy, ông kiến nghị Hiệp hội tập hợp những vướng mắc này, đề xuất chính quyền các địa phương công khai, minh bạch quy trình lựa chọn nhà đầu tư và giải quyết hồ sơ; đồng thời làm rõ đầu mối xử lý, thời gian thực hiện cũng như cơ quan chịu trách nhiệm chính.

Ông cho rằng, nếu chính quyền địa phương quyết liệt trong giải quyết thủ tục, địa phương đó sẽ có lợi thế thu hút đầu tư. Ngược lại, tâm lý e ngại, sợ làm sai có thể khiến các quy trình bị đình trệ.

Ông Phan Minh Toàn Thư, Giám đốc Chi nhánh Tổng Công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc - CTCP tại TP.HCM

Vướng mắc thứ hai là giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư. Theo ông Thư, đối với việc phát triển khu công nghiệp, giải phóng mặt bằng là một khâu vô cùng quan trọng và cần thiết để có thể tiến hành các bước kinh doanh tiếp theo. Vì vậy, việc bàn giao mặt bằng rất cần sự ủng hộ của chính quyền địa phương.

Ông cho biết, pháp luật hiện đã cho phép triển khai dự án theo phân kỳ đầu tư. Với khu công nghiệp, dự án có thể chia thành hai hoặc ba giai đoạn, thực hiện giải phóng mặt bằng và giao đất theo từng phần. Cách làm này giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực, sớm có quỹ đất sạch để xây dựng hạ tầng đồng bộ, trong đó có hệ thống xử lý nước thải, đồng thời hạn chế tình trạng giải tỏa "da beo". Tuy nhiên, tiến độ thực hiện trên thực tế vẫn phụ thuộc nhiều vào sự chủ động của chính quyền địa phương.

Ông Thư cũng phản ánh tình trạng một bộ phận người dân tìm cách trục lợi chính sách bồi thường sau khi quy hoạch được công bố, như đưa ống cống đến đặt, trồng thêm cây, dựng công trình nhỏ, thậm chí lập mộ giả hoặc xây nhà trái phép. Những hành vi này gây khó khăn cho công tác kiểm kê, bồi thường và giải phóng mặt bằng.

Để hạn chế tình trạng trên, ông cho rằng cần có sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương, tăng cường kiểm soát địa bàn và xử lý các vi phạm, qua đó bảo đảm tiến độ triển khai dự án.

Ông Thư cũng nhấn mạnh cần nhìn nhận khu công nghiệp là một trong những trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Khi khu công nghiệp phát triển, nhu cầu về khu dân cư, dịch vụ và các hoạt động kinh tế liên quan sẽ gia tăng, qua đó tạo thêm nguồn thu cho ngân sách.

Về vấn đề hạ tầng điện, nước, ông Thư cho biết tại một số địa phương, ngành điện thông tin việc đầu tư lưới điện phục vụ khu công nghiệp chưa nằm trong kế hoạch vốn và yêu cầu doanh nghiệp phát triển hạ tầng ứng vốn trước. Điều này tạo thêm áp lực tài chính cho nhà đầu tư, đồng thời đòi hỏi sự hỗ trợ, chỉ đạo từ chính quyền địa phương. Nếu không bảo đảm đủ điện, nước, tiến độ phát triển khu công nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Đối với định hướng phát triển khu công nghiệp xanh, hướng tới mục tiêu Net Zero, ông Thư cho rằng đây là yêu cầu cần thiết nhưng việc triển khai còn gặp nhiều thách thức về chi phí.

Theo ông, các tiêu chí về sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng mặt trời và tái sử dụng nước thải ngày càng được chú trọng khi xem xét dự án. Tuy nhiên, khoảng cách giữa cam kết trong hồ sơ và khả năng triển khai thực tế vẫn là vấn đề lớn, nhất là đối với các hạng mục đòi hỏi vốn đầu tư cao như hệ thống tái sử dụng nước thải.

Từ kinh nghiệm tham quan mô hình tại Thượng Hải, ông Thư cho biết chi phí thuê đất khu công nghiệp tại đây tương đối thấp, khoảng 100 USD theo mức giá ông đề cập. Trong khi đó, mức giá tại Tây Ninh ít nhất khoảng 200 USD, còn tại TP.HCM từ 300 USD trở lên. Sự khác biệt về chi phí thuê đất khiến khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư cho các hạng mục môi trường giữa các khu công nghiệp không giống nhau.

Vì vậy, theo ông Thư, phát triển khu công nghiệp xanh là định hướng đúng đắn, nhưng không phải địa phương nào cũng có thể áp dụng ngay với cùng một mức độ do những rào cản về chi phí đầu tư.

Từ những vướng mắc thực tế trong quá trình triển khai dự án, ông Phan Minh Toàn Thư đề xuất ba nhóm nhiệm vụ đối với Hiệp hội trong thời gian tới.

Thứ nhất, Hiệp hội cần chủ động tập hợp các khó khăn chung của doanh nghiệp hội viên, phân loại theo từng nhóm vấn đề như pháp lý, đất đai, giải phóng mặt bằng, hạ tầng kết nối và phát triển xanh. Trên cơ sở đó, Hiệp hội tổng hợp thành các kiến nghị trọng tâm gửi đến cơ quan chuyên môn và cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ hai, tổ chức các buổi đối thoại chính sách theo chuyên đề, xuất phát từ những vướng mắc cụ thể của doanh nghiệp. Chẳng hạn, đối với tình trạng thiếu thống nhất giữa các địa phương trong việc lựa chọn hình thức đấu thầu, Hiệp hội có thể mời các cơ quan nhà nước liên quan cùng trao đổi, làm rõ quy định và tìm hướng tháo gỡ.

Thứ ba, phát huy vai trò kết nối giữa các doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp với cộng đồng doanh nghiệp thứ cấp. Theo ông Thư, mỗi khu công nghiệp có thể có hàng trăm doanh nghiệp thứ cấp hoạt động. Khi các doanh nghiệp có nhu cầu, Hiệp hội có thể trở thành đầu mối kết nối với nhà cung cấp hoặc khách hàng mục tiêu, hỗ trợ mở rộng hợp tác và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Ông Thư cho rằng, nếu thực hiện tốt những vai trò này, Hiệp hội sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư và củng cố vị thế của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư.

Phát triển hệ sinh thái khu công nghiệp nông nghiệp thông minh gắn với thương mại xuyên biên giới

Phát biểu ý kiến liên quan đến hệ sinh thái khu công nghiệp nông nghiệp thông minh gắn với thương mại xuyên biên giới, ông Trần Ngọc Trung, đại diện Viện Agris Tech đã có những chia sẻ tại Toạ đàm.

Theo ông Trung, bên cạnh tăng cường liên kết giữa các ngành và hệ thống khu công nghiệp hiện có, Việt Nam cần mở rộng mô hình kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, gắn với xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường.

Ông cho rằng, lĩnh vực nông - lâm - thủy sản có tiềm năng lớn, có thể trở thành một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu xuất khẩu nông - lâm - thủy sản năm 2025 đạt 70 tỷ USD, song để hiện thực hóa tiềm năng này, Việt Nam vẫn phải giải quyết những hạn chế về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu. Trong khi đó, hệ thống hạ tầng chuyên ngành phục vụ sản xuất, chế biến và thương mại nông sản vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế.

Việc thiếu hạ tầng đồng bộ khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời phải cạnh tranh gay gắt về giá với các quốc gia khác, trong đó có Malaysia, bên cạnh sức ép từ các thị trường lớn như Trung Quốc.

Ông Trần Ngọc Trung, đại diện Viện Agris Tech

Từ thực tế đó, ông Trung đề xuất nghiên cứu mô hình phát triển khu công nghiệp theo chuỗi giá trị chuyên ngành, thay vì chỉ tập trung cung cấp quỹ đất và hạ tầng phục vụ sản xuất như cách tiếp cận truyền thống. Theo mô hình này, các khâu từ vùng nguyên liệu, kho lạnh, sơ chế, chế biến, logistics đến điều hành số và dịch vụ giao thương được tổ chức đồng bộ, tạo thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh.

Cụ thể, nguồn nguyên liệu được sản xuất theo tiêu chuẩn, có mã số vùng trồng và thông tin truy xuất nguồn gốc rõ ràng, sau đó đưa về khu tập kết. Tiếp theo là các khâu sơ chế, đóng gói tại khu chức năng đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, trước khi chuyển sang chế biến chuyên sâu. Theo ông Trung, chế biến chuyên sâu hiện vẫn là một trong những nút thắt cần được tháo gỡ để nâng cao giá trị nông sản Việt Nam.

Ông cho biết, bên cạnh những khó khăn tồn tại trước đây, đã có một số doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, trong đó có chế biến thực phẩm chức năng. Tuy nhiên, để phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, cần kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc xuyên suốt từ đầu vào đến đầu ra. Đồng thời, các dịch vụ logistics, thương mại và kho ngoại quan cũng cần được phát triển đồng bộ. "Chế biến chuyên sâu hiện đang là một "nút thắt cổ chai" mà quốc gia vẫn đang tìm cách giải quyết", ông nói.

Bên cạnh hạ tầng sản xuất, ông Trung cho rằng mô hình khu công nghiệp nông nghiệp thông minh cần có khu điều hành và hệ thống dịch vụ hỗ trợ, trong đó có trung tâm chuyển giao công nghệ. Ông dẫn ví dụ về nhu cầu chuyển giao công nghệ nông nghiệp từ một số tổ chức nước ngoài, trong đó có Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc), trong khi Việt Nam vẫn thiếu các địa điểm phù hợp để tiếp nhận và triển khai. Vì vậy, việc hình thành các khu chuyên biệt kết hợp với đào tạo là cần thiết.

Theo ông Trung, cốt lõi của hệ sinh thái này là một trung tâm điều hành kết nối các tập đoàn và quản lý dữ liệu xuyên suốt từ khâu truy xuất nguồn gốc đến giao thương. Thị trường hiện nay không chỉ giới hạn ở trong nước hay ngoài nước, mà còn mở rộng qua các hoạt động trên sàn thương mại điện tử xuyên biên giới. Với mô hình này, chúng ta có thể giải quyết được những khó khăn tồn đọng của nhà đầu tư nông nghiệp, như tình trạng bị ép giá hay sự phụ thuộc vào hệ thống kho bãi, logistics do đối tác nước ngoài kiểm soát. Đồng thời, việc xây dựng hạ tầng chất lượng sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người dân địa phương, góp phần hình thành một nền nông nghiệp được công nghiệp hóa.

Về mặt đối ngoại và thị trường, mô hình này giúp đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và tạo điều kiện cho các startup, doanh nghiệp vừa và nhỏ nghiên cứu, sáng tạo ra các sản phẩm nông - lâm - thủy sản. Hệ thống cũng cung cấp các dịch vụ chuyên môn hỗ trợ doanh nghiệp từ khâu dữ liệu truy xuất nguồn gốc, thủ tục xuất nhập khẩu cho đến các giải pháp logistics và vận chuyển thương mại.

Dưới góc độ chuyên môn và khả năng phát triển thị trường bất động sản, ông Trung đề xuất các nhà đầu tư có thể nghiên cứu chuẩn hóa và phát triển thêm mô hình này, kết hợp với các yếu tố như khu công nghiệp xanh hay các giải pháp tài chính. Ngoài ra, có thể mở rộng nghiên cứu việc tận dụng và tái chế phụ phẩm nông sản, hướng tới nền kinh tế tuần hoàn. 

Theo ông, nông nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai mô hình này; việc tích hợp các hoạt động sản xuất, chế biến và tái sử dụng phụ phẩm trong khu công nghiệp sẽ góp phần khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực và nguồn vốn đầu tư.

Hạ tầng môi trường trở thành lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI

Phát biểu về hiện trạng phát triển khu công nghiệp và các vấn đề xử lý nước, chất thải, bà Lê Thị Kim Thanh, đại diện SUEZ Việt Nam cho rằng, trước đây, chủ đầu tư chủ yếu tập trung giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng và xây dựng nhà máy xử lý nước thải đáp ứng quy định của Nhà nước, thì hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng quan tâm đến khả năng đáp ứng những yêu cầu chuyên biệt của ngành nghề sản xuất.

Bà dẫn ví dụ về TSMC - một tập đoàn sản xuất chất bán dẫn có yêu cầu rất cao về nguồn nước. Khi lựa chọn địa điểm đầu tư, các doanh nghiệp như TSMC không chỉ xem xét giá thuê đất mà còn đánh giá khả năng đáp ứng của hệ sinh thái hạ tầng tại khu vực, đặc biệt là nguồn cung và chất lượng nước phục vụ sản xuất.

Theo bà Thanh, TSMC đang đối mặt với những thách thức về hạn hán và xâm nhập mặn tại Đài Loan. Trước áp lực này, doanh nghiệp đã nâng tỷ lệ tái sử dụng nước lên 65%, đồng thời đặt mục tiêu đạt 90% vào năm 2028. Bên cạnh lượng nước lớn phục vụ sản xuất, ngành bán dẫn còn đòi hỏi nguồn nước khử khoáng đạt chất lượng phù hợp, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.

Từ dẫn chứng trên, bà Thanh cho rằng khi các doanh nghiệp công nghệ cao, đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn, tìm kiếm địa điểm đầu tư, yếu tố quyết định không còn đơn thuần là giá thuê đất mà là khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và vận hành. Vì vậy, các chủ đầu tư KCN cần thay đổi cách tiếp cận, chuẩn bị hạ tầng phù hợp với nhu cầu của những ngành công nghiệp mới như điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), xe điện, pin, năng lượng mới, dược phẩm và công nghệ sinh học.

Một trong những yêu cầu quan trọng là bảo đảm nguồn cấp nước công nghiệp chất lượng cao, hệ thống xử lý nước thải, công nghệ khử khoáng và khử mặn. Tuy nhiên, theo bà Thanh, tại Việt Nam, quy chuẩn về nước hiện nay chủ yếu tập trung vào nước sinh hoạt và nước công nghiệp nói chung, trong khi các ngành công nghệ cao có những yêu cầu riêng biệt, đòi hỏi giải pháp chuyên sâu hơn.

Bên cạnh đó, công nghệ xử lý nước thải cũng cần được nâng cấp để đáp ứng những yêu cầu mới. Một số hợp chất sử dụng trong sản xuất vật liệu, chẳng hạn vật liệu chống dính, có đặc tính phức tạp và đòi hỏi công nghệ xử lý chuyên biệt. Nếu không được kiểm soát hiệu quả, các chất này có thể gây ô nhiễm môi trường.

Bà Lê Thị Kim Thanh, đại diện SUEZ Việt Nam

Bà Thanh cũng lưu ý rằng các quy định về môi trường tại Việt Nam đang ngày càng chặt chẽ. Theo bà, trước đây, việc kiểm soát nước thải tập trung vào khoảng 33 thông số ô nhiễm, trong khi các quy định mới đặt ra thêm yêu cầu đối với hệ thống xử lý. Điều này buộc các KCN hiện hữu phải rà soát, nâng cấp hạ tầng để đáp ứng quy chuẩn áp dụng; các KCN mới phải tính toán yêu cầu tuân thủ ngay từ giai đoạn đầu tư.

Đây chính là khái niệm "hạ tầng môi trường". Bên cạnh hạ tầng giao thông và năng lượng, hạ tầng môi trường đang trở thành yếu tố quyết định đối với các nhà đầu tư. Nhiều chủ đầu tư KCN, đặc biệt ở miền Nam, đang hướng tới tệp khách hàng công nghệ cao này. Ví dụ, một khách hàng trong lĩnh vực trung tâm dữ liệu (Data Center) hoặc sản xuất chất bán dẫn khi tìm kiếm vị trí đã yêu cầu chủ đầu tư KCN phải có hệ thống xử lý nước chuyên biệt và cam kết tỷ lệ tái sử dụng nước. Đây là điều kiện tiên quyết để họ lựa chọn KCN.

Không chỉ có nước thải, các KCN còn phải quan tâm đến tái chế pin và xử lý chất thải công nghiệp. Hiện nay, chất thải công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại thường được giao cho các đơn vị thứ ba thu gom, xử lý. Theo bà Thanh, nếu KCN có thể tổ chức xử lý, tái chế và cung cấp lại nguyên vật liệu cho doanh nghiệp, qua đó giảm chi phí logistics và nguyên liệu đầu vào, đây sẽ là lợi thế cạnh tranh đáng kể.

Theo bà Thanh, khi lựa chọn địa điểm đầu tư, các doanh nghiệp FDI ngày càng quan tâm đến ba vấn đề chính: KCN có đáp ứng các tiêu chuẩn ESG hay không; nguồn nước có ổn định, bền vững hay không; và hệ thống xử lý nước thải, chất thải có đáp ứng yêu cầu sản xuất hay không.

Việc đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong thực hiện các cam kết phát triển bền vững và giảm phát thải. Bà cũng đề cập đến cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của châu Âu, dự kiến tác động đến chi phí của doanh nghiệp từ năm 2026, qua đó nhấn mạnh lợi ích của việc đầu tư hạ tầng xanh đối với các nhà sản xuất xuất khẩu.

Đối với nguồn nước, dù Việt Nam có nguồn tài nguyên nước tương đối dồi dào, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn vẫn xảy ra tại nhiều khu vực. Trong khi đó, theo bà Thanh, hành lang pháp lý liên quan đến tái sử dụng nước còn những điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc triển khai các giải pháp mà công nghệ hiện nay đã có thể đáp ứng.

Bà cho rằng đây là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách phát triển KCN xanh. Nếu chưa có cơ chế rõ ràng để thúc đẩy tái sử dụng nước, các KCN sẽ tiếp tục chịu áp lực về nguồn cung, trong khi một lượng nước sau xử lý chưa được khai thác hiệu quả.

Bài toán chi phí cũng là thách thức lớn. Chi phí đầu tư cho hạ tầng môi trường rất cao. Thêm vào đó, quy định pháp luật ngày càng nghiêm ngặt, buộc các KCN hiện hữu phải liên tục cải tạo. Ví dụ, tại khu vực Nhơn Trạch (Đồng Nai), quy định về tiêu chuẩn xả thải đã thay đổi khắt khe hơn. Việc thay đổi hệ thống hạ tầng để đáp ứng chỉ số mới đòi hỏi chủ đầu tư KCN phải thương lượng với khách hàng thứ cấp, điều này thường tạo ra áp lực rất lớn về mặt chi phí và sự đồng thuận.

Mặc dù chi phí cho môi trường rất cao, nhưng theo bà Thanh, nếu thay đổi tư duy, biến "chi phí tuân thủ" thành "lợi thế cạnh tranh", thì đây sẽ là thỏi nam châm thu hút đầu tư. Hiện nay, nhiều KCN gặp khó khăn trong việc thu hút nhà đầu tư do các lợi thế truyền thống (như ưu đãi thuế, chi phí nhân công rẻ) không còn nhiều. Do đó, hạ tầng môi trường hiện đại sẽ mang lại lợi ích cho cả ba bên.

Đối với khách thuê (FDI): Giúp họ đáp ứng tiêu chuẩn ESG, giảm thuế, giảm rủi ro gián đoạn sản xuất, tự tin nhận đơn hàng và thực hiện cam kết giảm phát thải.

Đối với chủ đầu tư KCN: Tạo ra sự khác biệt giữa 400 KCN tại Việt Nam, nâng cao hình ảnh và thu hút dòng vốn chất lượng cao.

Đối với địa phương: Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường, giải quyết bài toán ô nhiễm nan giải.

"Hạ tầng môi trường không còn là chi phí tuân thủ mà đã trở thành hạ tầng chiến lược, nền tảng thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và là công cụ thực hiện các cam kết ESG. Các chủ đầu tư cần đầu tư mạnh vào quan trắc và quản lý dữ liệu môi trường. Quản lý vận hành chuyên nghiệp mới là yếu tố then chốt để phát triển bền vững.

Để giải quyết bài toán này, các chủ đầu tư KCN nên hướng tới việc hợp tác. Tương tự như ngành khách sạn, chủ đầu tư xây dựng nhưng thuê các đơn vị chuyên nghiệp (như Hilton, Marriott) để vận hành, tận dụng danh tiếng và kinh nghiệm của họ. Thay vì tự xây dựng nhà máy xử lý nước thải và tự quản lý vận hành (như 99% các KCN hiện nay đang làm), các chủ đầu tư nên hợp tác với những đơn vị có chuyên môn, kỹ thuật và hệ thống tiêu chuẩn quốc tế để tối ưu hóa quản lý", đại diện SUEZ Việt Nam đề xuất.

Gỡ vướng tiền thuê đất, giải phóng mặt bằng để thúc đẩy phát triển khu công nghiệp 

Đồng tình với các ý kiến đã được nêu tại toạ đàm, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến phát triển khu công nghiệp sinh thái, ông Chế Văn Trung, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Dịch vụ công ích Quận 2, chủ đầu tư KCN Cát Lái cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc nâng cấp các khu công nghiệp theo hướng xanh, sinh thái là yêu cầu cần thiết để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Nếu tiếp tục duy trì phương thức phát triển như trước đây, Việt Nam sẽ khó theo kịp xu hướng và yêu cầu mới. Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này, cần tháo gỡ những khó khăn về cơ chế, chính sách, nhân lực và công nghệ.

Theo ông, trước hết, dù Nghị định 35 và một số văn bản liên quan đang được sửa đổi, bổ sung, nhưng hiện nay vẫn chưa có hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng về khu công nghiệp sinh thái để doanh nghiệp và địa phương áp dụng thống nhất. Nếu tiêu chuẩn đặt ra không đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi xuất khẩu hàng hóa. Ngược lại, nếu yêu cầu quá cao, chi phí đầu tư và giá thuê đất khu công nghiệp có thể tăng lên, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Vì vậy, ông Trung cho rằng, cần sớm ban hành bộ tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể đối với khu công nghiệp sinh thái, đồng thời phân loại theo đặc điểm của từng khu công nghiệp. Đối với các khu công nghiệp mới hình thành, việc áp dụng mô hình sinh thái ngay từ đầu sẽ thuận lợi hơn. Trong khi đó, với những khu công nghiệp đã hoạt động, cần có lộ trình và giải pháp chuyển đổi phù hợp, tương tự quá trình chỉnh trang các khu đô thị hiện hữu. 

"Việc yêu cầu các khu công nghiệp đang hoạt động chuyển đổi ngay sang mô hình sinh thái sẽ gặp nhiều khó khăn và cần thời gian dài để thực hiện. Các tiêu chí về khu công nghiệp sinh thái cũng cần được tính toán ngay từ khâu quy hoạch để bảo đảm tính đồng bộ trong quá trình triển khai", ông nói.

Một vấn đề khác là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Đây là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành và triển khai khu công nghiệp, nhưng hiện nay chi phí bồi thường còn cao, trong khi chính sách liên quan vẫn phát sinh nhiều vướng mắc. Nếu không giải quyết được khâu giải phóng mặt bằng, doanh nghiệp sẽ khó triển khai các bước tiếp theo của dự án.

Đối với vấn đề xử lý và tái sử dụng nước thải, ông cho biết, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã đề cập đến việc khuyến khích sử dụng nước thải sau xử lý. Tuy nhiên, theo ông, cần sớm có hướng dẫn chi tiết để doanh nghiệp có cơ sở thực hiện. Nghị quyết số 7 được ban hành ngày 25/3 vừa qua đã giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn nội dung này, nhưng hiện vẫn cần những quy định cụ thể về điều kiện và phương thức tái sử dụng nước thải.

Việc tái sử dụng nước thải sau xử lý không chỉ góp phần tiết kiệm tài nguyên mà còn giảm chi phí vận hành cho doanh nghiệp. Chẳng hạn, nước sau xử lý đạt quy chuẩn có thể được xem xét sử dụng cho các mục đích phù hợp, như tưới cây xanh trong khu công nghiệp, thay vì tiếp tục sử dụng nước máy. Trong khi đó, nhiều khu công nghiệp đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải và quan trắc hiện đại, nhưng nước thải sau xử lý vẫn chưa được tận dụng hiệu quả do thiếu hướng dẫn cụ thể.

Ông Chế Văn Trung, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Dịch vụ công ích Quận 2, chủ đầu tư KCN Cát Lái

Bên cạnh đó, cần rà soát những bất cập trong hoạt động quan trắc nước thải tự động. Hiện nay, nhiều khu công nghiệp đã đầu tư hệ thống quan trắc hiện đại, nhưng việc sử dụng chất chuẩn để hiệu chuẩn thiết bị vẫn có những điểm chưa phù hợp. Điều này có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống xử lý và quan trắc nhưng vẫn bị xử phạt nặng trong một số thời điểm. Do đó, cần xem xét lại quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan, bảo đảm việc giám sát, đánh giá chất lượng nước thải phản ánh đúng thực tế, đồng thời tránh tạo thêm gánh nặng không cần thiết cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, theo ông, một trong những vấn đề lớn nhất hiện nay là tiền thuê đất tại các khu công nghiệp. Tại một số địa phương, trong đó có TP.HCM, mức tiền thuê đất tăng rất cao qua các chu kỳ, gây áp lực lớn đối với cả chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và doanh nghiệp thuê lại đất. Có trường hợp mức tiền thuê đất của chu kỳ tiếp theo tăng hơn 1.000% so với chu kỳ trước, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc cân đối chi phí và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Đối với các khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp đồng thuê đất có thể quy định mức tăng không quá 15% sau mỗi chu kỳ 5 năm, tương đương bình quân 3% mỗi năm. Đây là mức tăng mà doanh nghiệp có thể tính toán và chủ động chuẩn bị nguồn lực. Tuy nhiên, khi mức tăng thực tế vượt xa khả năng dự liệu, doanh nghiệp sẽ khó bảo đảm hiệu quả hoạt động. Đáng chú ý, có trường hợp doanh nghiệp đã bồi thường đất nhưng chưa hoàn thành đầu tư hạ tầng, chưa hình thành đầy đủ đường giao thông, cây xanh và các hạng mục liên quan, song đã phát sinh nghĩa vụ tiền thuê đất. Điều này càng làm gia tăng áp lực tài chính trong giai đoạn đầu tư.

Theo ông, cần nhìn nhận đất khu công nghiệp không chỉ là một loại bất động sản mà còn là tư liệu sản xuất, có vai trò tạo việc làm, thúc đẩy hoạt động công nghiệp, đóng góp ngân sách và tạo động lực cho nền kinh tế. Chủ đầu tư khu công nghiệp phải bỏ nguồn lực lớn để bồi thường, giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng và tạo lập quỹ đất phục vụ sản xuất. Vì vậy, cơ chế xác định tiền thuê đất cần được xem xét trên cơ sở đặc thù của loại hình đất này, bảo đảm hài hòa giữa nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và khả năng duy trì hoạt động của doanh nghiệp.

Nếu tiền thuê đất tăng quá cao, chi phí này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phương án tài chính của chủ đầu tư và doanh nghiệp thuê lại đất. Khi doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán, nguy cơ phát sinh nợ thuế, bị cưỡng chế tài khoản hoặc phải thu hẹp, chấm dứt hoạt động sẽ tăng lên. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến từng doanh nghiệp mà còn tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của khu công nghiệp.

Ngoài ra, quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng còn gặp khó khăn đối với những phần diện tích đất xen kẹt, đất nhỏ lẻ hoặc các khu vực sông, rạch không còn đáp ứng chức năng tiêu thoát nước. Việc xử lý những diện tích này còn liên quan đến các thủ tục thương lượng, xác định giá và nghĩa vụ tài chính, khiến quá trình hoàn thiện mặt bằng kéo dài. Có những trường hợp doanh nghiệp muốn thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng chưa thể hoàn tất thủ tục để nộp tiền thuê đất. Đây là những vướng mắc cần được cơ quan chức năng rà soát và hướng dẫn cụ thể.

Ông Trung cho rằng hai vấn đề cần ưu tiên tháo gỡ hiện nay là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và cơ chế xác định tiền thuê đất tại các khu công nghiệp. Nếu những vướng mắc này không được giải quyết kịp thời, chủ đầu tư sẽ khó có đủ nguồn lực để hoàn thiện hạ tầng, còn doanh nghiệp sản xuất cũng chịu áp lực lớn về chi phí. 

"Tôi sẽ tổng hợp các khó khăn, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp cụ thể bằng văn bản để gửi các cơ quan, đơn vị liên quan xem xét, kiến nghị tháo gỡ. Qua đó, góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, phát triển khu công nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp", ông cho biết.

Doanh nghiệp cần chủ động kiến nghị, không chờ vướng mắc kéo dài

Ghi nhận ý kiến của lãnh đạo các doanh nghiệp tại Toạ đàm, Nhà báo Phạm Nguyễn Toan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam cho biết, Hiệp hội sẽ tổng hợp các vướng mắc của doanh nghiệp, có kiến nghị chính thức gửi Chính phủ và các bộ, ngành liên quan, đặc biệt đối với những bất cập trong xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Nhà báo Phạm Nguyễn Toan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam phát biểu.

Theo ông Phạm Nguyễn Toan, như ý kiến của ông Chế Văn Trung đã đề cập, những bất cập về chi phí đất đai không chỉ xảy ra đối với đất khu công nghiệp mà còn xuất hiện tại nhiều dự án phát triển nhà ở, khu đô thị ở các địa phương. Thực tế, có những trường hợp doanh nghiệp phải rút khoảng 30% quy mô dự án dự kiến đầu tư khu đô thị hoặc khu công nghiệp do chi phí tiền sử dụng đất theo tính toán của cơ quan chức năng quá cao, khiến phương án tài chính không còn bảo đảm hiệu quả.

Ông dẫn ví dụ tại một khu vực vùng xa ở Hưng Yên, dù chỉ triển khai dự án khu nông thôn mới kiểu mẫu, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với chi phí tiền sử dụng đất lớn, làm giảm động lực đầu tư. Tình trạng tương tự cũng diễn ra với các dự án khu công nghiệp, khi chi phí đất đai liên tục gia tăng, tạo áp lực đối với cộng đồng doanh nghiệp.

Từ thực tế này, ông cho biết Hiệp hội sẽ tổng hợp đầy đủ các phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, làm cơ sở kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan sớm nghiên cứu, có giải pháp tháo gỡ, bảo đảm hài hòa giữa nghĩa vụ tài chính về đất đai và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.

Kết luận Toạ đàm chuyên đề, TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, nhấn mạnh một số vấn đề cần tập trung kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ nhất, về việc đáp ứng mục đích tái sử dụng nước, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên nước đều đã có quy định, nhưng cần phải được cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng.

Thứ hai, đối với ý kiến về việc chuyển đổi khu công nghiệp truyền thống nhằm đáp ứng các mục tiêu mới và yêu cầu hội nhập từ các nhà đầu tư nước ngoài (đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn), Hiệp hội cần có những đề xuất cụ thể.

Thứ ba, chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp và nhà đầu tư là vô cùng quan trọng. Việc đặt ra các tiêu chuẩn, chẳng hạn như tiêu chuẩn tái sử dụng nước, cũng cần đi kèm với các chính sách hỗ trợ. Đồng thời, đối với yêu cầu chuyển đổi các khu công nghiệp truyền thống, cần làm rõ chính sách hỗ trợ tài chính cụ thể ở đây là gì?

TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, thành viên Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Ủy viên BTV Thành ủy, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội

TS. Nguyễn Văn Khôi cho rằng, mỗi khu công nghiệp có nhiều loại hình doanh nghiệp và ngành nghề khác nhau, trong khi chính các doanh nghiệp đang trực tiếp hoạt động là những người hiểu rõ nhất các khó khăn, bất cập phát sinh trong thực tiễn. Vì vậy, ông đề nghị các doanh nghiệp chủ động xây dựng kiến nghị cụ thể, nêu rõ vướng mắc và đề xuất giải pháp, không cần chờ đợi thêm.

"Thời gian không chờ đợi ai", TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh, đồng thời đề nghị các doanh nghiệp tiếp tục phản ánh những bất cập trong quá trình triển khai dự án tại địa phương. Hiệp hội Bất động sản Việt Nam sẽ tổng hợp các ý kiến, đại diện cộng đồng doanh nghiệp kiến nghị trực tiếp lên Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền, góp phần tháo gỡ khó khăn, hoàn thiện chính sách và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, phát triển khu công nghiệp.

Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng và gặp mặt hội viên khu vực phía Nam

Tại Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng và gặp mặt hội viên khu vực phía Nam, Nhà báo Phạm Nguyễn Toan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam đã báo cáo công tác hoạt động 10 tháng đầu năm 2026 và nhiệm vụ hoạt động trọng tâm năm 2027. 

Theo đó, trong 10 tháng đầu năm 2026, Liên chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam đã tập trung triển khai các nhiệm vụ theo định hướng của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam; phát huy vai trò tập hợp doanh nghiệp, kết nối chuyên gia, thúc đẩy nghiên cứu, hợp tác và trao đổi chính sách. Các hoạt động được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển khu công nghiệp, thu hút đầu tư và tăng cường năng lực cạnh tranh của bất động sản công nghiệp Việt Nam, thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:

- Thứ nhất, bám sát định hướng của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, tập trung nghiên cứu, trao đổi và đề xuất các giải pháp phát triển bất động sản công nghiệp gắn với các vùng động lực, cực tăng trưởng mới.Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành và Gặp mặt hội viên thường niên năm 2026 của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam ngày 12/3/2026, Liên chi hội đã xây dựng và triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm 2026. Nội dung tập trung vào nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển khu công nghiệp xanh, tuần hoàn, sinh thái; thúc đẩy liên kết giữa hạ tầng công nghiệp với hệ thống logistics hiện đại, đáp ứng yêu cầu thu hút đầu tư và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Các định hướng này được cụ thể hóa thông qua hoạt động nghiên cứu, hội thảo, diễn đàn, kết nối chuyên môn và hợp tác với các tổ chức, đơn vị trong năm 2026.

- Thứ hai, đẩy mạnh hợp tác với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, gắn nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực với ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp và bất động sản công nghiệp.Tháng 5/2026, Liên chi hội ký Biên bản ghi nhớ hợp tác với Viện Nghiên cứu Năng lượng Bền vững (RISE) thuộc Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và Viện Nghiên cứu Ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo trong Phát triển Bền vững (AI4SD) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung hợp tác hướng tới kết hợp nguồn lực về hạ tầng, giải pháp năng lượng xanh và công nghệ số, phục vụ phát triển công nghiệp bền vững. Hướng hợp tác này tạo cơ sở kết nối tri thức, năng lực nghiên cứu và giải pháp công nghệ với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp; hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý, vận hành và chuyển đổi mô hình phát triển khu công nghiệp theo hướng xanh, thông minh và bền vững.

Nhà báo Phạm Nguyễn Toan báo cáo công tác hoạt động 10 tháng đầu năm 2026 và nhiệm vụ hoạt động trọng tâm năm 2027 của Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam.

- Thứ ba, tăng cường kết nối, tập hợp tri thức và trao đổi chuyên môn về định hướng phát triển khu công nghiệp thế hệ mới gắn với mục tiêu tăng trưởng công nghiệp quốc gia. Ngày 10/7/2026, Liên chi hội phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược tổ chức Diễn đàn Phát triển Khu công nghiệp Việt Nam - Vietnam Industrial Park Summit 2026 tại Hải Phòng, với chủ đề "Phát triển Khu công nghiệp Việt Nam gắn với mục tiêu tăng trưởng công nghiệp quốc gia". Nội dung diễn đàn tập trung trao đổi về định hướng phát triển khu công nghiệp thế hệ mới, cơ chế và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao, nâng cấp hạ tầng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam.

Đại diện Liên chi hội tham gia phiên tọa đàm cấp cao cùng các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu và đại diện doanh nghiệp trong lĩnh vực khu công nghiệp. Diễn đàn có sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan Trung ương và địa phương, các bộ, ban, ngành; hơn 25 diễn giả, chuyên gia; hơn 30 đơn vị triển lãm; các cơ quan thông tấn, báo chí và hơn 1.000 đại biểu đến từ các tổ chức quốc tế, hiệp hội, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, chủ đầu tư và đơn vị phát triển hạ tầng khu công nghiệp. Thông qua diễn đàn, Liên chi hội góp phần kết nối các góc nhìn quản lý, nghiên cứu và thực tiễn doanh nghiệp, trao đổi những vấn đề đặt ra đối với phát triển khu công nghiệp trong giai đoạn mới.

- Thứ tư, tăng cường phối hợp tổ chức các diễn đàn chuyên ngành, thúc đẩy kết nối đầu tư và lan tỏa các mô hình phát triển bất động sản công nghiệp theo hướng xanh, thông minh và bền vững. Ngày 29/9/2026, Liên chi hội phối hợp với Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức Diễn đàn Bất động sản Công nghiệp Việt Nam lần thứ 6 - năm 2026 (VIPF 2026) tại TP. Hồ Chí Minh, dưới sự bảo trợ của Bộ Tài chính, với chủ đề "Cơ hội trong vòng xoáy biến động". Diễn đàn tập trung phân tích những biến động của kinh tế thế giới, xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu; nhận diện cơ hội, thách thức đối với bất động sản công nghiệp Việt Nam; trao đổi giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn đầu tư thế hệ mới và phát triển hệ thống khu công nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.

Chương trình có sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia, nhà đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp, tạo điều kiện trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm cơ hội hợp tác. Trong khuôn khổ diễn đàn, Ban Tổ chức vinh danh các doanh nghiệp, đơn vị tiêu biểu trong phát triển bất động sản công nghiệp xanh, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Các hoạt động này góp phần giới thiệu kinh nghiệm thực tiễn, lan tỏa những mô hình phát triển tiên tiến và khuyến khích doanh nghiệp quan tâm hơn đến chất lượng hạ tầng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và trách nhiệm với môi trường, xã hội.

- Thứ năm, chủ động tập hợp ý kiến hội viên, phát huy vai trò tư vấn, phản biện và tham gia hoàn thiện cơ chế, chính sách về khu công nghiệp, khu kinh tế. Một hoạt động tiêu biểu được triển khai từ cuối năm 2025 là việc Liên chi hội ban hành Công văn số 08/2025/CV-VIREA ngày 19/12/2025, đề nghị các doanh nghiệp hội viên nghiên cứu, góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.

Công văn đề nghị góp ý cụ thể theo từng điều khoản, có căn cứ thực tiễn; tập trung vào thủ tục đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, lựa chọn và trách nhiệm của nhà đầu tư; phê duyệt quy hoạch khu đất phát triển nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động; tiêu chí xác định khu công nghiệp sinh thái và các vướng mắc khi triển khai dự án.

Việc tổ chức lấy ý kiến góp phần tập hợp những vấn đề phát sinh từ thực tiễn đầu tư, sản xuất, kinh doanh của hội viên, phục vụ công tác nghiên cứu và đóng góp chính sách của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam. Kinh nghiệm này là cơ sở để Liên chi hội tiếp tục hoàn thiện phương thức tiếp nhận vướng mắc, xây dựng kiến nghị có căn cứ và theo dõi phản hồi chính sách trong giai đoạn tiếp theo.

- Thứ sáu, chủ động xây dựng các chương trình truyền thông chính sách, gắn thông tin chính sách với thực tiễn phát triển bất động sản công nghiệp và nhu cầu của doanh nghiệp. Lãnh đạo Liên chi hội chủ động định hướng, xây dựng các chương trình truyền thông chính sách trên Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam và phối hợp với các cơ quan báo chí triển khai nội dung truyền thông chuyên ngành. Nội dung tập trung phổ biến, phân tích chủ trương, chính sách liên quan đến đầu tư, phát triển khu công nghiệp; phản ánh khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp; trao đổi giải pháp và giới thiệu các kiến nghị từ thực tiễn.

Thông qua truyền thông chính sách, Liên chi hội tăng cường kết nối thông tin giữa cơ quan quản lý, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp; góp phần làm rõ những vấn đề trong thực thi chính sách, nhận diện các nội dung cần nghiên cứu, hoàn thiện và giới thiệu những mô hình phát triển khu công nghiệp hiệu quả, bền vững. Đây cũng là phương thức hỗ trợ hội viên tiếp cận thông tin chuyên ngành, trao đổi kinh nghiệm và phản ánh nhu cầu, kiến nghị đến các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Nhiệm vụ và hoạt động trọng tâm 2027

Một là củng cố tổ chức, phát triển hội viên, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả huy động nguồn lực.

Tiếp tục củng cố tổ chức, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Văn phòng, Ban Pháp chế và hội viên. Hoàn thiện phương thức tổ chức, điều hành theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và Quy chế tổ chức, hoạt động của Liên chi hội; xác định rõ mục tiêu, sản phẩm, đầu mối phụ trách, tiến độ và nguồn lực thực hiện đối với từng chương trình.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của từng đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực trong việc chủ động đề xuất nhiệm vụ, kết nối đối tác, huy động nguồn lực và phối hợp triển khai hoạt động. Duy trì sự tham gia tích cực, thường xuyên và có hiệu quả; phân công nhiệm vụ phù hợp với năng lực, lĩnh vực chuyên môn và điều kiện của từng thành viên. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công, làm cơ sở nâng cao trách nhiệm và chất lượng hoạt động của tập thể lãnh đạo Liên chi hội.

Chú trọng huy động và phát huy nguồn lực của cộng đồng doanh nghiệp, nhất là các hội viên nòng cốt, để triển khai các chương trình chuyên môn có chiều sâu và duy trì hoạt động thường xuyên. Khuyến khích hội viên chủ động đăng ký tham gia, đề xuất sáng kiến và đồng hành với các chương trình phù hợp; kết hợp nguồn lực tài chính với tri thức, chuyên gia, dữ liệu, công nghệ và mạng lưới đối tác. Gắn việc huy động nguồn lực với mục tiêu, sản phẩm cụ thể và lợi ích thiết thực đối với hội viên, trên cơ sở tự nguyện, công khai và minh bạch.

Đẩy mạnh phát triển hội viên, chú trọng các doanh nghiệp đầu tư, phát triển và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất, logistics, các tổ chức tư vấn, nghiên cứu, đào tạo và đơn vị cung cấp dịch vụ có liên quan. Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên để nắm bắt nhu cầu, khó khăn, vướng mắc và các vấn đề phát triển mới; kịp thời điều chỉnh nội dung, phương thức hỗ trợ. Qua đó, tăng cường sự gắn bó, trách nhiệm tham gia và đóng góp của hội viên, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên và năng lực hoạt động của Liên chi hội.

Hai là nghiên cứu, tư vấn và góp ý hoàn thiện cơ chế, chính sách.

Chủ động nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề thực tiễn phát sinh trong quá trình đầu tư, phát triển và vận hành khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hạ tầng logistics và các loại hình bất động sản công nghiệp có liên quan; tập trung vào các nội dung về quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, hạ tầng kỹ thuật và cơ chế thu hút đầu tư.

Tăng cường phối hợp với các cơ quan chuyên môn, viện nghiên cứu, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp trong việc tổ chức các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, hội thảo, tọa đàm chuyên đề; tổng hợp ý kiến, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tham gia góp ý đối với các dự thảo cơ chế, chính sách thuộc lĩnh vực hoạt động của Liên chi hội khi được cơ quan có thẩm quyền hoặc Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đề nghị.

Chú trọng nghiên cứu những vấn đề mới đặt ra đối với phát triển bất động sản công nghiệp trong bối cảnh điều chỉnh không gian phát triển kinh tế, tăng cường liên kết vùng, phát triển các cực tăng trưởng mới và nâng cao chất lượng thu hút đầu tư.

Xây dựng Chương trình đối thoại và kiến nghị chính sách phát triển khu công nghiệp, vận hành thường xuyên trên cơ sở tiếp nhận vướng mắc của hội viên. Mỗi vấn đề được lập hồ sơ gồm quy định liên quan, bằng chứng thực tiễn, tác động, phương án xử lý và cơ quan có thẩm quyền; tổ chức đối thoại chuyên đề khi cần thiết, tổng hợp bản kiến nghị và theo dõi phản hồi. Ưu tiên các vấn đề về đầu tư hạ tầng, đất đai, năng lượng, môi trường, nhà ở và dịch vụ cho người lao động; cập nhật các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế quy định về quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế.

Ba là thúc đẩy chuyển đổi xanh, thông minh và tuần hoàn tại khu công nghiệp

Tăng cường các hoạt động nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm và giới thiệu các mô hình, giải pháp phát triển khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thông minh, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của lĩnh vực bất động sản công nghiệp Việt Nam.

Tập trung vào các nội dung chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng sạch, quản lý tài nguyên, giảm phát thải và ứng dụng công nghệ trong quản lý, vận hành hạ tầng khu công nghiệp.

Tiếp tục thúc đẩy triển khai các nội dung hợp tác đã ký kết với Viện Nghiên cứu Năng lượng Bền vững (RISE) và Viện Nghiên cứu Ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo trong Phát triển Bền vững (AI4SD); nghiên cứu khả năng phối hợp triển khai các chương trình chuyên môn, đào tạo, chuyển giao kiến thức và ứng dụng giải pháp công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp bền vững.

Nghiên cứu triển khai Chương trình đồng hành chuyển đổi xanh, thông minh và tuần hoàn tại khu công nghiệp, lựa chọn các khu công nghiệp tự nguyện và đối tác chuyên môn để thí điểm. Nội dung gồm khảo sát hiện trạng sử dụng năng lượng, nước và tài nguyên; khả năng cộng sinh công nghiệp; quản lý dữ liệu môi trường, phát thải và vận hành số. Sản phẩm dự kiến gồm lộ trình chuyển đổi và danh mục giải pháp, dự án ưu tiên. Kết quả thực hiện được theo dõi bằng các chỉ tiêu cụ thể, làm cơ sở chia sẻ kinh nghiệm và nhân rộng mô hình.

Các đại biểu tham dự chụp ảnh lưu niệm tại Hội nghị.

Bốn là kết nối doanh nghiệp, tài chính, công nghệ và đầu tư chất lượng cao

Phát huy vai trò cầu nối giữa các doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế, doanh nghiệp sản xuất, các đơn vị cung cấp dịch vụ logistics, tài chính, công nghệ và các tổ chức có liên quan nhằm thúc đẩy trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội hợp tác và phát triển thị trường.

Tăng cường tổ chức và phối hợp tổ chức các chương trình gặp gỡ, kết nối doanh nghiệp, hội thảo, diễn đàn chuyên ngành, hoạt động khảo sát thực tế tại các khu công nghiệp, khu kinh tế và các địa phương có tiềm năng phát triển công nghiệp.

Chú trọng thúc đẩy liên kết giữa phát triển bất động sản công nghiệp với hệ thống hạ tầng giao thông, logistics, dịch vụ hỗ trợ sản xuất và chuỗi cung ứng; góp phần nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng công nghiệp và khả năng thu hút các dự án đầu tư có chất lượng.

Phát triển Chương trình kết nối tài chính xanh, công nghệ và đầu tư chất lượng cao cho khu công nghiệp. Trên cơ sở nhu cầu của hội viên, chuẩn bị danh mục dự án và hồ sơ thông tin để kết nối với ngân hàng, quỹ đầu tư, tổ chức phát triển và nhà cung cấp giải pháp; ưu tiên tiết kiệm năng lượng, nước, hạ tầng môi trường và số hóa quản lý. Đồng thời khảo sát mức độ sẵn sàng về điện, nước, hạ tầng số, nhân lực và dịch vụ để thu hút các dự án bán dẫn, điện tử, trí tuệ nhân tạo (AI) và trung tâm dữ liệu phù hợp với điều kiện hạ tầng của từng khu công nghiệp; kết nối doanh nghiệp trong nước với nhà đầu tư và chuỗi cung ứng trong khu công nghiệp.

Năm là nâng cao chất lượng các diễn đàn, hội thảo chuyên ngành.

Tiếp tục nghiên cứu, phối hợp tổ chức các diễn đàn, hội thảo và tọa đàm chuyên đề về phát triển khu công nghiệp, bất động sản công nghiệp, logistics và các lĩnh vực có liên quan; từng bước xây dựng các chương trình trao đổi chuyên môn có chiều sâu, gắn với những vấn đề thực tiễn của doanh nghiệp và yêu cầu phát triển của thị trường.

Trên cơ sở kết quả phối hợp tổ chức Diễn đàn Phát triển Khu công nghiệp Việt Nam (Vietnam Industrial Park Summit 2026) tại Hải Phòng và Diễn đàn Bất động sản Công nghiệp Việt Nam lần thứ 6 (VIPF 2026) tại TP. Hồ Chí Minh, Liên chi hội tiếp tục tăng cường hợp tác với các cơ quan, tổ chức, đơn vị truyền thông, đặc biệt là Báo Tài chính - Đầu tư và các đối tác liên quan, nhằm xây dựng kế hoạch và phối hợp tổ chức các diễn đàn chuyên ngành trong năm 2027. Nội dung tập trung vào các vấn đề về phát triển khu công nghiệp thế hệ mới, thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh của bất động sản công nghiệp Việt Nam.

Thông qua các hoạt động này, Liên chi hội tăng cường kết nối cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu, chuyên gia, nhà đầu tư và doanh nghiệp; tổng hợp những kiến nghị có căn cứ thực tiễn phục vụ công tác tư vấn, phản biện và đóng góp chính sách.

Gắn các diễn đàn chuyên ngành với công bố kết quả nghiên cứu, đối thoại chính sách và kết nối dự án cụ thể. Tận dụng các chương trình hợp tác, diễn đàn đã hình thành để giới thiệu Báo cáo Phát triển bền vững các khu công nghiệp Việt Nam, trao đổi kết quả thí điểm chuyển đổi xanh và thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp, địa phương, tổ chức tài chính và đơn vị công nghệ.

Sáu là mở rộng hợp tác nghiên cứu, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả các mối quan hệ hợp tác đã được thiết lập; chủ động tìm kiếm, mở rộng hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xúc tiến đầu tư và các đối tác trong nước, quốc tế có hoạt động liên quan đến lĩnh vực bất động sản công nghiệp.

Ưu tiên các chương trình hợp tác về nghiên cứu, trao đổi thông tin, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học và công nghệ, năng lượng xanh, chuyển đổi số và các giải pháp phát triển bền vững trong khu công nghiệp.

Từng bước thúc đẩy các hoạt động trao đổi kinh nghiệm quốc tế, tiếp cận các mô hình quản lý, vận hành khu công nghiệp tiên tiến và giới thiệu tiềm năng, cơ hội hợp tác đầu tư trong lĩnh vực bất động sản công nghiệp tại Việt Nam, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của Liên chi hội.

Phối hợp xây dựng Chương trình phát triển nhân lực và quản trị khu công nghiệp bền vững, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo, cán bộ quản lý về các vấn đề môi trường, xã hội và quản trị (ESG), dữ liệu phát triển bền vững, chuyển đổi số và vận hành hạ tầng. Kết hợp khảo sát nhu cầu kỹ năng của doanh nghiệp với nhu cầu nhà ở, dịch vụ thiết yếu và điều kiện làm việc của người lao động; đề xuất mô hình phối hợp doanh nghiệp - cơ sở đào tạo - địa phương, gắn chất lượng nguồn nhân lực với an sinh và sức hấp dẫn của khu công nghiệp.

Bảy là truyền thông chính sách và phối hợp thực hiện nhiệm vụ của Hiệp hội.

Lãnh đạo Liên chi hội chủ động xây dựng kế hoạch, lựa chọn chủ đề và phối hợp triển khai các chương trình truyền thông chính sách trên Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam và các cơ quan báo chí. Tập trung phân tích chính sách mới, làm rõ những vấn đề trong thực thi; tổ chức trao đổi giữa cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp về giải pháp phát triển bất động sản công nghiệp, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư và phát triển bền vững.

Xây dựng các tuyến nội dung chuyên sâu, tọa đàm và phỏng vấn về chính sách; công bố kết quả nghiên cứu, phản ánh kiến nghị của hội viên và theo dõi quá trình giải quyết. Gắn truyền thông với các chương trình khảo sát, báo cáo thường niên, đối thoại chính sách, đánh giá phát triển bền vững và mô hình thí điểm; chú trọng tính chính xác, khả năng giải thích chính sách và giá trị sử dụng đối với doanh nghiệp.

Chủ động tham gia các chương trình, hoạt động chuyên môn và thực hiện các nhiệm vụ do Hiệp hội Bất động sản Việt Nam giao; bảo đảm hoạt động của Liên chi hội gắn kết chặt chẽ với định hướng chung của Hiệp hội, tuân thủ Điều lệ, Quy chế tổ chức và hoạt động cùng các quy định của pháp luật có liên quan.

Tám là xây dựng báo cáo thường niên về phát triển bền vững các khu công nghiệp Việt Nam.

Dưới sự chỉ đạo của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Liên chi hội nghiên cứu phương án phối hợp với các viện nghiên cứu, chuyên gia, doanh nghiệp và đối tác để xây dựng báo cáo thường niên. Nội dung phản ánh thực trạng phát triển khu công nghiệp, chất lượng hạ tầng và thu hút đầu tư; đánh giá các khía cạnh kinh tế, môi trường, xã hội và quản trị; nhận diện cơ hội, vướng mắc và đề xuất kiến nghị chính sách. Chú trọng liên kết vùng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, hiệu quả sử dụng tài nguyên và điều kiện sống, làm việc của người lao động.

Giai đoạn đầu kết hợp thông tin công khai với khảo sát các khu công nghiệp, doanh nghiệp tự nguyện tham gia và nghiên cứu trường hợp điển hình; công khai phạm vi, kỳ dữ liệu, phương pháp thu thập và kiểm tra dữ liệu. Đề xuất đầu ra năm 2027 gồm ấn phẩm đầu tiên, bản tóm tắt khuyến nghị chính sách, dữ liệu khảo sát có thể cập nhật và bản giới thiệu song ngữ phục vụ trao đổi với nhà đầu tư. Qua đó hình thành nguồn thông tin có giá trị tham khảo cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các đối tác.

Chín là nghiên cứu xây dựng và thí điểm chương trình đánh giá, xếp hạng khu công nghiệp phát triển bền vững.

Năm 2027 ưu tiên xây dựng đề án, tham vấn bộ tiêu chí và thí điểm đánh giá, đối sánh trên nhóm khu công nghiệp tự nguyện. Tham chiếu Bộ chỉ số Khu công nghiệp bền vững (SIP Index) do Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp với IDH Việt Nam xây dựng; đồng thời tham chiếu Khung quốc tế về khu công nghiệp sinh thái của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức. Nghiên cứu khả năng hợp tác về phương pháp, dữ liệu và chuyên gia. Bộ tiêu chí cần bao quát hiệu quả kinh tế, quản trị, môi trường, xã hội, liên kết cộng đồng và khả năng cải thiện theo thời gian; phân nhóm khu công nghiệp có đặc điểm, giai đoạn phát triển tương đồng để đối sánh phù hợp.

Công khai phương pháp, tiêu chí, trọng số và phạm vi dữ liệu; có hội đồng chuyên môn độc lập, cơ chế kiểm tra thông tin và tiếp nhận phản hồi. Tách biệt nguồn tài trợ với quyết định đánh giá. Việc đánh giá được triển khai trên cơ sở tự nguyện và có tính chất tham khảo chuyên môn, không thay thế việc công nhận khu công nghiệp sinh thái của cơ quan có thẩm quyền. Chỉ đề xuất công bố xếp hạng khi kết quả thí điểm đáp ứng yêu cầu về dữ liệu và phương pháp; gắn xếp hạng với khuyến nghị cải thiện, chia sẻ thực hành tốt và hỗ trợ chuyển đổi thực chất.

Tùng Dương